Những chỉ số bình thường khi đánh giá xét nghiệm tinh dịch đồ

Tinh dịch đồ là một trong những xét nghiệm cơ bản nhất và không thể thiếu khi một cặp vợ chồng vô sinh đi thăm khám. Thông qua tinh dịch đồ, người ta có thể đánh giá sơ bộ khả năng sinh của người chồng, hướng tới những xét nghiệm cần làm tiếp theo và đưa ra phương cách điều trị.
Gửi Câu Hỏi để CSTY tư vấn MIỄN PHÍ.
Tư vấn [ riêng tư ] với Chuyên gia Tâm lý qua
Zalo 088 68 045 88 (có trả phí)

 

Hiện nay, một số trung tâm sử dụng các phương pháp phân tích tinh dịch đồ với sự hỗ trợ của vi tính (CASA: Computer – Aided Semen Analysis). Tuy nhiên, với những tiêu chuẩn được Tổ chức Y tế Thế giới đề ra vào năm 1993, phương pháp soi dưới kính hiển vi truyền thống vẫn được đại đa số mọi người công nhận và được sử dụng rộng rãi, vì nó có độ chính xác tương đối cao.

 

Phân tích một mẫu tinh dịch

 

Để không làm ảnh hưởng đến kết quả, mẫu thử cần được lấy đúng cách, mẫu thử sau khi đem đến phòng xét nghiệm sẽ được đánh giá về đại thể (quan sát bằng mắt thường) cũng như vi thể (quan sát dưới kính hiển vi).

 

Quan sát đại thể

 

Mẫu tinh dịch khi được đưa vào phòng xét nghiệm sẽ được đặt trong tủ ấm để đánh giá sự ly giải. Bình thường, mẫu sẽ ly giải hoàn toàn sau khoảng 15 – 20 phút. Nếu mẫu thử không ly giải hay ly giải không hoàn toàn, có thể nghi ngờ đến bất thường ở tiền liệt tuyến (thường gặp nhất là viêm tiền liệt tuyến).

 

 

Sau khi mẫu đã hóa lỏng, người ta sẽ đánh giá tiếp các yếu tố khác, bao gồm thể tích và màu sắc tinh dịch. Bình thường tinh dịch có màu trắng xám, hơi đục và đồng nhất. Nếu tinh dịch có màu vàng thì có thể do lẫn nước tiểu trong quá trình lấy mẫu hay do nhiễn trùng. Những mẫu tinh dịch trong và loãng thường có tinh trùng ít hay thậm chí không có tinh trùng.

Những bất thường về thể tích tinh dịch cũng có thể gợi ý đến một số nguyên nhân bất thường. Trung bình, thể tích mỗi lần xuất tinh của người đàn ông khoảng trên 2ml.

 

Ngoài ra, mẫu tinh dịch còn được đánh giá độ pH. Thông thường, tinh dịch có tính kiềm, với pH dao động trong khoảng 7,2 – 8,4. Trong những trường hợp không có tinh trùng kèm theo mẫu thử có pH 7, nguyên nhân có thể là do tắc ống dẫn tinh.

 

Mẫu thử sau khi được đánh giá đại thể sẽ được quan sát dưới kính hiển vi (vi thể).

 

Quan sát vi thể

 

Mẫu thử được đánh giá độ di động, số lượng tinh trùng/ml tinh dịch, tỷ lệ sống - chết, sự hiện diện của bạch cầu và tỷ lệ tinh trùng có hình dạng bình thường.

 

- Độ di động của tinh trùng sẽ được đánh giá dưới vật kính 40X. Tùy theo tốc độ di chuyển và người ta sẽ chia tinh trùng thành 4 nhóm:

 

 

- A: Tinh trùng di động tiến tới, nhanh.

- B: Tinh trùng di động tiến tới, chậm.

- C: Tinh trùng di động tại chỗ.

- D: Tinh trùng không di động.

 

- Để tính số lượng tinh trùng trong một ml tinh dịch, sau khi pha loãng tinh dịch với tỷ lệ thích hợp và làm tinh trùng bất động, người ta sử dụng một buồng đếm, bên trong có chia nhiều ô nhỏ.

 

- Hình dạng tinh trùng sẽ được quan sát ở vật kính 100X, sau khi được nhuộm bằng phương pháp đặc biệt (Papanicolaou). Các bất thường có thể xuất hiện ở đầu, cổ hay đuôi của tinh trùng.

 

Một kết quả phân tích tinh dịch bình thường là gì?

 

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã công bố các chỉ số phân tích tinh dịch bình thường sau đây:

 

- Thể tích tinh dịch > 2 ml.

- Nồng độ tinh trùng > 20 triệu tinh trùng/ml.

- Độ di động của tinh trùng > 50% tinh trùng di động, hoặc 25% tinh trùng di động rất nhanh.

- Hình thái tinh trùng > 15% có hình dạng bình thường (theo những tiêu chuẩn rất nghiêm ngặt).

- Bạch cầu < 1 triệu bạch cầu/ml.

- Kháng thể kháng tinh trùng < 50% tinh trùng được phủ kháng thể kháng tinh trùng.

 

 

Những lưu ý khi đánh giá kết quả

 

- Tinh trùng được tạo ra từ các tế bào sinh tinh, nằm trong các ống sinh tinh thuộc 2 tinh hoàn. Sau khi được hình thành, tinh trùng sẽ di chuyển vào mào tinh. Chính tại đây, quá trình trưởng thành của tinh trùng sẽ được hoàn tất. Tinh trùng từ khi được sinh ra cho đến khi trưởng thành hoàn toàn cần một khoảng thời gian từ 10 – 12 tuần. Dịch mỗi khi xuất tinh bao gồm: tinh trùng và tinh dịch. Tinh dịch là các chất tiết từ tuyến tiền liệt (1/3 thể tích) và từ túi tinh (chiếm 2/3 còn lại). Chỉ cần có một bất thường nào trong quá trình sinh tinh hay của các tuyến nêu trên cũng làm ảnh hưởng đến kết quả tinh dịch đồ.

 

- Cách thức lấy tinh dịch có đúng không, thời gian kiêng giao hợp trước khi lấy tinh dịch (3 - 5 ngày) và thời điểm phân tích mẫu thử phải trong khoảng 1 giờ sau khi lấy mẫu.

 

- Nếu tinh dịch đồ có bất thường, nên thực hiện ít nhất 2 - 3 lần để đánh giá, kiểm tra và so sánh.

 

- Kết quả và chuẩn bình thường tinh dịch đồ của mỗi phòng xét nghiệm ở những bệnh viện là khác nhau, vì thế kết quả có thể sẽ không giống nhau.

 

- Để biết khả năng có con của một người đàn ông thì không thể chỉ có dựa vào kết quả tinh dịch đồ. Một số người vẫn có con bình thường dù kết quả tinh dịch đồ có số lượng tinh trùng ít hoặc yếu. Ngược lại, tinh dịch đồ bình thường cũng không thể đảm bảo người đó chắc chắn có thể có con. Để đánh giá khả năng có con cũng như hướng điều trị thế nào thì cần phải đánh giá trên cơ sở khám và kết quả xét nghiệm của cả hai vợ chồng như: độ tuổi, thời gian quan hệ không sử dụng biện pháp tránh thai, các bệnh kèm theo, đã điều trị như thế nào… chứ không chỉ dựa vào kết quả tinh dịch đồ.

 

CửaSổTìnhYêu
nhiệt độ tác động đến tinh trùng, sản sinh tinh trùng, chất lượng tinh trùng, khả năng sinh sản nam, tinh trùng khỏe mạnh, nhiệt độ tinh trùng cao
Thông thường nhiệt độ ở bìu thấp hơn nhiệt độ cơ thể khoảng 1-2 độ C (Nhiệt độ cơ thể trung bình...
viêm gan b, bệnh viêm gan b, nguyên nhân lây bệnh viên gan b, con đường lây nhiễm viêm gan b, điều trị bệnh viêm gan b, virus gây viêm gan b, bệnh lây truyền qua đường tình dục, bệnh về gan
Viêm gan siêu vi B là một loại virus tấn công lá gan, gây ra bệnh viêm gan. Theo thống kê thì...
nhiễm độc thai nghén, nguyên nhân nhiễm độc thai nghén, triệu trứng nhiễm độc thai nghén, biến trứng nhiễm độc thai nghén, sản giật, tiền sản giật, điều trị nhiễm độct hai nghén, phòng nhiễm độc thai nghén
Nhiễm độc thai nghén là một chứng bệnh chỉ phát sinh trong thời kỳ thai nghén. Nhiễm độc thai...
dậy thì, lần đầu có kinh nguyệt, cường kinh, thống kinh, vô kinh
Con gái đến tuổi dậy thì thường có những thay đổi ban đầu ra sao?
mang thai, bất đồng nhóm máu, rh, bệnh về máu, thai nhi, trẻ sơ sinh
Bất đồng nhóm máu Rh giữa mẹ và con sẽ dẫn đến tình trạng miễn dịch chống lại yếu tố Rh trong máu...
ung thư vú, ung thư vú ở nam giới, ung thư, nam giới bị ung thư vú, di căn, không chú trọng, không quan tâm, tuyến vú
Thống kê của Hiệp hội ung thư Mỹ cho thấy, năm 2010 có khoảng 1970 ca mắc ung thư vú mới ở nam...
Tìm hiểu về tăng huyết áp thai kỳ
Khác với tình trạng người bệnh đã có bệnh tăng huyết áp mạn tính từ trước khi mang thai, tăng...
 trẻ từ 1 đến 6 tuổi, chăm sóc trẻ sơ sinh, dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh, bệnh thường gặp ở trẻ, kiến thức sống khỏe, bí quyết sống khỏe,
Tắc ruột là một cấp cứu ngoại khoa chỉ đứng thứ hai sau viêm ruột thừa, có nhiều nguyên nhân gây...
viêm gan b là gì, bệnh viêm gan b, biểu hiện của viêm gan b, biến chứng của viên gan b, các giai đoạn của viêm gan b, tiêm phòng viêm gan b, viêm gan, tế bào gan, phá hủy tế bào gan, virus viêm gan b, xơ gan do viêm gan b, ung thư gan do viêm gan b
Viêm gan siêu vi B là một loại virus tấn công lá gan, gây ra bệnh viêm gan. Theo thống kê thì...
rỉ ối khi mang thai, nguyên nhân rỉ ối, rỉ ối sớm, triệu chứng rỉ ối, phân biệt nước ối, điều trị rỉ ối sớm, phòng rỉ ối sớm, vai trò của nước ối
Nước ối là môi trường dưỡng chất ở thể lỏng, được tạo ra từ nhau thai, màng ối và hệ tuần hoàn...